Trang 6 / 9 Đầu tiênĐầu tiên ... 45678 ... Cuối cùngCuối cùng
Hiển thị kết quả từ 51 đến 60 / 88

Chủ đề: Hành hương Rome nhân dịp Năm Thánh - 10/2025

  1. #51
    Tham gia
    30-04-2017
    Bài viết
    2,747
    Chia sẻ của bác làm em phải tìm hiểu thêm về giáo hội thời đó và nhờ vậy em học được vài điều mới. Em xin chia sẻ vài thông tin em tìm hiểu được để thêm một góc nhìn của một lịch sử phức tạp chứ không ý biện minh cho bất kỳ sai lầm nào.

    Nói về số vàng dát trần với mẻ vàng đầu tiên của Columbus thì theo các tài liệu lịch sử, chuyến đi đầu tiên của Columbus (1492–1493) chỉ mang về số lượng vàng rất nhỏ, không đáng kể về mặt kinh tế. Chủ yếu là một số đồ trang sức nhỏ, vàng miếng từ vùng Hispaniola (ngày nay là Haiti và CH Dominican) chứ không phải mẻ vàng khổng lồ như mong đợi. Vì vậy câu chuyện này mang tính biểu tượng nhiều hơn. Mỏ vàng lớn thật sự chỉ xảy ra sau khi Hernán Cortés chinh phục Aztec (1519-1521) và Francisco Pizarro chinh phục Inca (1532-1533).

    Về sự giàu có của Giáo hội thời kỳ đó thì nguồn tài chính chủ yếu của Giáo hội đến từ thuế Thập phân (Tithes) - 10% thu nhập của các giáo dân toàn Châu Âu. Một nguồn khác là các thứ thuế và lợi tức từ Lãnh thổ Giáo hoàng (Papal States). Khi ấy Giáo hoàng trực tiếp cai trị một vùng lãnh thổ rộng lớn ở miền trung nước Ý. Về các quà biếu, và đặc biệt là vàng từ Châu Mỹ thì em nghĩ chỉ chiếm một phần rất nhỏ. Nhất là khi Royal Fifth dùng chủ yếu phục vụ quân sự và chính trị của triều đình Tây Ban Nha.

    Bác nói đúng về những tội ác tàn bạo của conquistador đối với người bản địa. Hai bức tranh bác chụp đã khắc hoạ mạnh mẽ nỗi đau của họ. Đó là sự thật không thể phủ nhận.

    Các hành vi tàn bạo của các Conquistador như Cortés hay Pizarro vi phạm trực tiếp các điều răn của Chúa. Đức tin cần hành động qua đức ái (faith that works in love), nơi con người đón nhận ân sủng Chúa để biến đổi đời sống. Những hành vi tàn bạo đó cho thấy họ đã khước từ ân sủng để đi theo bóng tối của tham vọng hơn là theo tinh thần Phúc Âm.

    Trong thân phận thụ tạo, tất cả đều mang tội lỗi và cần đến lòng thương xót của Thiên Chúa. Vì vậy khi nhìn lại lịch sử, chúng ta cũng thấy có những vị Giáo hoàng bất toàn (bad popes). Các vị, dù giữ trọng trách đại diện Chúa Giêsu Kitô, cũng không miễn trừ khỏi thân phận bất toàn này. Giáo hội Công giáo là thánh thiện (holy), nhưng lại bao gồm những con người tội lỗi luôn cần được canh tân.

    Nói về vai trò của Giáo hội và các vị Giáo hoàng ở thời kỳ này cũng phức tạp. Từ bối cảnh, ý thức hệ thời bấy giờ đến việc đan xen giữa tôn giáo và chính trị. Các Giáo hoàng thời đó vừa phải giữ vai trò lãnh đạo tinh thần của Giáo hội toàn cầu, đồng thời duy trì liên minh chính trị với cường quốc Công giáo để đối phó với nhiều thách thức lớn khác như phong trào Kháng Cách ở Châu Âu hay đế quốc Ottoman.

    Sau khi nhận mẻ vàng đầu tiên thì GH Alexander VI đã ban hành sắc lệnh Inter Caetera (4 tháng 5, 1493). Ngôn ngữ của sắc lệnh này đan xen giữa tôn giáo (mục tiêu truyền giáo) và chính trị (phân chia ảnh hưởng giữa hai cường quốc Công giáo là TBN và BĐN để tránh xung đột). Nhưng vì sự mơ hồ trong sắc lệnh nên đã bị lạm dụng. TBN và các conquistador diễn giải nó như quyền sở hữu tuyệt đối, cho phép chiếm đất, khai thác tài nguyên và thiếp lập hệ thống encomienda (lao dịch bản địa gần như nô lệ) và cũng dùng để biện minh cho bạo lực và cướp bóc.

    Bên cạnh sự tàn bạo đẫm máu của các Conquistador thì chính giáo hội đã lên tiếng mạnh mẽ phản đối những sai trái của họ.

    Tiếng nói phê phán công khai và mạnh mẽ được ghi nhận đầu tiên là dòng tu Dominican (dòng Đa Minh). Năm 1510, một nhóm dòng Đa Minh đến truyền giáo tại Hispaniola và họ đã kinh hoàng trước sự tàn ác đối với người bản địa. Ngày 21/12/1511, linh mục Antonio de Montesinos của dòng đã công khai cảnh cáo mạnh mẽ, rõ ràng nhất chống lại sự tàn bạo này. Cha tuyên bố toàn bộ lính TBN đang sống trong tội lỗi chết người và không được quyền nô dịch người bản địa. Dòng Đa Minh sau đó thực hiện chính sách Từ chối giải tội và Rước Lễ. Chừng nào quân lính chưa thả nô lệ và trả lại tài sản, họ sẽ không được tha tội. Đây là một hình thức kỷ luật thiêng liêng mạnh mẽ, vì thời đó, Bí tích là điều kiện thiết yếu để được cứu rỗi linh hồn. Sau đó tuy bị kiện lên vua TBN (trong đó có con trai Columbus) đòi đuổi dòng Đa Minh về, nhưng dòng kiên quyết không nhượng bộ. Và sức ép từ dòng là một phần quan trọng dẫn đến Luật Burgod năm 1512. Đây là văn bản pháp lý đầu tiên công nhận quyền làm người của dân bản địa.

    Bài giảng trước Giáng Sinh năm 1511 cũng đã chạm đến lương tâm của một người, đó là Bartolomé de lá Casas (1484-1566). Ông này cũng là chủ encomienda. Sau khi chứng kiến những tàn bạo, thảm sát và đặc biệt sau khi suy ngẫm về bài giảng của cha Montesinos cũng như các bài giảng của dòng, ông từ bỏ hết đất đai và nô lệ. Ông gia nhập dòng Đa Minh và dành cả đời tố cáo những tàn bạo mà những người ở thuộc địa gây ra. Ông ghi chép những tội ác đẫm máu và gửi thẳng cho vua TBN. Nhờ sự kiên trì của ông, nhà vua ban hành Bộ Luật Mới (Leyes Nuevas) vào năm 1542. Bộ luật này cấm chế độ nô lệ Encomienda. Tuy nhiên, do sự phản đối dữ dội từ các Conquistador tại thuộc địa, cuộc tranh luận về tính chính danh của việc chinh phạt vẫn tiếp diễn.

    Đỉnh cao là vào năm 1550-1551, ông tham gia cuộc Tranh luận Valladolid. Vua Charles V của Tây Ban Nha đã ra lệnh dừng mọi cuộc chinh phạt để hội đồng các nhà thần học và luật học (Trường phái Salamanca) xem xét liệu việc xâm lược Mỹ Châu có chính đáng về mặt đạo đức hay không. Đây là một cột mốc cực kỳ quan trọng trong lịch sử nhân quyền và là minh chứng rõ nhất cho nỗ lực của Giáo hội nhằm bảo vệ người bản địa chống lại các Conquistador. Đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử châu Âu, một đế quốc tổ chức một cuộc tranh luận công khai về tính đạo đức của việc xâm lược và quyền lợi của những người bị chinh phục.

    Ngoài hai ví dụ trên còn có Giám Mục Vasco de Quiroga (Giám mục Michoacán, Mexico). Ngài chọn hành động bằng kinh tế và xã hội. Ngài dùng tiền cá nhân và tài sản giáo phận để mua đất, xây dụng các Hospitales-pueblos, là những Làng cộng đồng tự trị. Mỗi làng là một đơn vị tự trị và người dân bản địa được dạy nghề thủ công (đan lát, làm gốm, rèn). Không có sự bóc lột từ chủ nô TBN. Ngài cũng thiết lập chế độ làm việc 6h/ngày để người dân có thời gian cho gia đình và giáo dục. Đến tận ngày nay, vùng Michoacán vẫn nổi tiếng với các làng nghề thủ công mà nguồn gốc chính là từ các "Hospitales-pueblos" của GM Vasco de Quiroga. Ngài được người dân yêu mến gọi là "Tata Vasco" (Tata là cách gọi cha/ông một cách trìu mến, gần gũi).

    Sau này Dòng Tên (Jesuits) xin phép Tòa Thánh và Nhà Vua để trang bị vũ khí cho người bản địa ở lưu vực sông Plata (Paraguay, Bắc Argentina và Nam Brazil ngày nay). Năm 1641, trong trận đánh Mbororé (Argentina ngày nay), quân đội người bản địa dưới sự dẫn dắt của Dòng Tên đã đánh bại hoàn toàn đội quân săn nô lệ của thực dân BĐN.

    Vào năm 1537, Đức Giáo hoàng Paul III đã ban hành sắc lệnh Sublimis Deus. Văn bản này khẳng định một cách dứt khoát rằng: người bản địa và tất cả những dân tộc mới được phát hiện là những con người thực thụ (veros homines), sở hữu linh hồn, trí tuệ và có đầy đủ nhân phẩm ngang hàng với người Châu Âu. Ngài tuyên bố rằng: dù chưa đón nhận đức tin Kitô giáo, họ vẫn có quyền tuyệt đối về tự do và sở hữu tài sản; mọi hành vi nô lệ hóa hay tước đoạt đều bị coi là vô hiệu và phi pháp. sắc lệnh cũng nhấn mạnh một nguyên tắc căn bản: niềm tin phải được lan tỏa bằng lời rao giảng và gương sáng đạo đức, chứ không bao giờ bằng gươm giáo hay sự cưỡng bức.

    Đến thời nay thì có 2 vị Giáo hoàng đã lên tiếng công khai xin lỗi người bản địa Châu Mỹ một cách rõ ràng và mạnh mẽ. Đầu tiên là Thánh Giáo hoàng John Paul II vào năm 1992 và năm 2000. Và sau đó là GH Francis vào năm 2015.

    Năm 1992, nhân kỷ niệm 500 năm ngày Christopher Columbus đến châu Mỹ, thay vì tổ chức ăn mừng chiến thắng, ngài đã chọn cách nhìn nhận thẳng thắn. Tại Santo Domingo, ngài công khai xin lỗi vì “những nỗi đau và bất công” mà người bản địa phải chịu đựng trong suốt năm thế kỷ qua, và kêu gọi người Công giáo hãy quỳ xuống xin sự tha thứ từ các dân tộc bản địa.
    Đến Năm Thánh 2000, trong thánh lễ long trọng tại Đền thờ Thánh Phêrô, ngài chính thức xin lỗi toàn thế giới về những sai trái và lỗi lầm mà Giáo hội đã gây ra, trong đó có tội lỗi liên quan đến việc vi phạm quyền con người và sự áp bức đối với các dân tộc khác.
    Năm 2015, trong chuyến thăm Bolivia, Đức GH Francis đã tuyên bố: “Nhiều tội lỗi nghiêm trọng đã được phạm phải chống lại các dân tộc bản địa trong cuộc chinh phục châu Mỹ. Tôi khiêm tốn xin lỗi, không chỉ vì những tội lỗi của Giáo hội, mà còn vì những tội ác đã được thực hiện nhân danh Thiên Chúa.”

    Tóm lại, lịch sử chinh phục Châu Mỹ nói riêng, và giáo hội thời đó nói chung là một trang phức tạp. Không hoàn toàn đen cũng không phải trắng. Nhưng trong những lúc đen tối thì lúc nào cũng có những ánh sáng lóe lên là những tiếng nói mạnh mẽ từ chính bên trong Giáo hội. Và Giáo hội đã và vẫn tiếp tục canh tân từng ngày. Như lời của Đức Giáo hoàng Benedict XVI trong buổi tiếp kiến chung năm 2009: “Giáo hội không thánh thiện nhờ công trạng của các thành viên, nhưng vì Thiên Chúa thiết lập và ban cho Giáo hội sự thánh thiện của Ngài. Tuy nhiên, trong khuôn mặt của Giáo hội, chúng ta cũng thấy những vết mờ vì tội lỗi của con người; vì thế, Giáo hội luôn luôn cần đến sự thanh tẩy và canh tân.”
    hm...

  2. #52
    Tham gia
    05-10-2011
    Bài viết
    5,157
    Cám ơn bác JL đã cho thêm chi tiết rất hay và đầy đủ về vai trò và hành động trong quá khứ của GH TCG đối với Châu Mỹ Latin. Thắc mắc của em đã được sáng tỏ phần nào khi nhìn vào thời điểm khi trần nhà của VCTĐ Santa Maria Maggiore được trùng tu hoặc thiết kế lại. Trong giai đoạn này, Wikipedia cho biết: "The basilica's 16th-century coffered ceiling, to a design by Giuliano da Sangallo, is said to be gilded with gold, initially brought by Christopher Columbus, presented by Ferdinand and Isabella to the Spanish pope, Alexander VI.

    Khi đọc đoạn này của Wiki, em nhận thấy hai điều phải cân nhắc lại, đó là hàng chữ "is said to be" và sự kiện nằm sau liên quan đến quà tặng của Ferdinand và Isabella cho ĐGH Alexander VI. Khi nói, viết "is said to be" là em nghĩ đến ngay cụm từ tiếng Việt có nghĩa "nghe nói là", nó hàm ý một lời đồn, dị nghị chưa chắc đã xảy ra hoặc không có bằng chứng vũng chắc. Sau đó em đọc thêm về tiểu sử của ĐGH Alexander VI, cũng trong Wiki. Bác nói đúng là số vàng Kha Luân Bố đem về trong đợt đầu chưa chắc đã nhiều và 1/5 phải chia cho triều đình Ferdinand và Isabella. Mối liên hệ giữa hai người này đối với Alexander VI có phần sâu đậm vì cùng là dân TBN và dĩ nhiên, người đi biếu luôn là người mang ơn huệ. Hơn nữa, ngày xưa không có lằn ranh rõ ràng giữa tôn giáo và chính trị, lúc đó GH và triều đình coi như là một với thế lực của người giàu có, quen biết rộng rãi và biết mua chuộc. ĐGH Alexander VI nằm trong giới này và vì thế quà của Ferdinand và Isabella dùng để dát vàng trần nhà trong Santa Maria Maggiore, nếu có xảy ra chỉ là biếu xén tượng trưng vì ĐGH Alexander VI vốn đã rất giàu, ông ta không cần vàng bạc của ai. "Presented to" chắc chỉ có nghĩa là nhận quà thay mặt cho GH TCG. ĐGH Alexander VI mất năm 1503, gần cả hai ba chục năm trước khi hai tên thảo khấu Hernán Cortés và Francisco Pizarro đi cướp vàng ở Châu Mỹ. Do đó, em nghĩ VCTĐ Santa Maria Maggiore và ĐGH Alexander VI không dính dáng gì đến số vàng hai tên này đem về.

    Em xin lỗi đã làm giàn doạn câu chuyện kể chuyên hành hương Năm Thánh của bác. Em học hỏi được nhiều điều và được biết thêm là ĐGH Alexander VI là người khởi xướng mở cửa Thánh vào năm 1500 và tục lệ đó còn được giữ dến ngày nay.
    Được sửa bởi Văn Khoa lúc 02:46 AM ngày 15-04-2026

  3. #53
    Tham gia
    30-04-2017
    Bài viết
    2,747
    Em lúc nào cũng hoan nghênh những chia sẻ và phân tích của bác Văn Khoa. Nhờ những câu hỏi như thế này thực sự giúp em học hỏi thêm được nhiều điều về bối cảnh lịch sử và vai trò của các ĐGH và Giáo Hội thời đó. Những chia sẻ và thảo luận về đạo và các tác phẩm nghệ thuật từ đầu đến giờ làm cho topic này thêm phần sống động, thú vị và ý nghĩa hơn nhiều.

    Nói về GH Alexander VI và Cửa Thánh thì như bác nói, và em chỉ xin thêm vài thông tin cho thú vị hơn.
    Giáo hoàng Alexander VI (1492–1503) là người khởi xướng nghi thức mở Cửa Thánh một cách long trọng và là người đầu tiên mở Cửa Thánh tại Vương cung thánh đường Thánh Phê-rô.

    Trước đó, nghi thức này chỉ được thực hiện tại VCTĐ Thánh Gioan Lateranô chứ không phải cả 4 Đại VCTĐ như ngày nay. Em sẽ nói thêm về nơi đây sau này. Từ xưa, Lateranô là nhà thờ chính tòa (cathedral) của Giáo hoàng với tư cách Giám mục Roma (Giáo hoàng chính là Giám mục của Roma), nên được coi là quan trọng nhất.
    Nhưng sau thời Lưu vong Avignon (1309–1377), khi Tòa Thánh phải dời sang Pháp gần 70 năm, và Đại Ly Giáo Tây Phương (1378–1417) thì VCTĐ Th. Gioan Lateranô bị hư hỏng nặng. Sau khi trở về thì các Giáo hoàng dần chuyển sang sống ở khu Vatican gần VCTĐ Thánh Phê-rô.
    Vì vậy ĐGH Alexander VI quyết định mở Cửa Thánh đầu tiên tại VCTĐ Thánh Phê-rô (lúc này vẫn là thánh đường cũ chứ không phải to lớn như ngày nay), rồi cho mở thêm tại Lateranô và hai đại thánh đường khác (VCTĐ Đức Bà Cả & Thánh Phao-lô Ngoại Thành). ĐGH cũng mở rộng nghi thức cho cả bốn đại thánh đường ở Roma. Vì vậy, 4 Cửa Thánh và các nghi thức mở Cửa Thánh như ngày nay vốn xuất phát từ thời ĐGH Alexander VI.
    Được sửa bởi joseph.luong lúc 06:25 AM ngày 16-04-2026

  4. #54
    Tham gia
    30-04-2017
    Bài viết
    2,747
    Rời VCTĐ Đức Bà Cả thì em đi bộ đến nhà thờ kế tiếp.
    Cảnh trên đường đi.
    5OC00369 by Joseph luong, on Flickr

    Ngôi nhà thờ này chỉ cách VCTĐ Đức Bà Cả có 350m. Nếu xem lại tấm hình nhìn từ cửa VCTĐ ra quảng trường, thì chỉ cần men theo con đường bên phải sẽ đến.

    Điểm đến là Nhà thờ Thánh Anphongsô Maria Liguori - Chiesa di Sant'Alfonso Maria de' Liguori. Thánh Anphongsô là người sáng lập Dòng Chúa Cứu Thế.
    Em tìm được tiểu sử trên trang web của DCCT Việt Nam nên post lên đây luôn để tiện theo dõi.





    Nhà thờ Thánh An-phong-sô (St. Alphonsus) ngày nay là nhà thờ mẹ và cũng là trụ sở chính của dòng Chúa Cứu Thế (DCCT). Tiếng Anh là Redemptorist. Và bên trong nhà thờ cũng có một bức linh ảnh về Đức Mẹ. Đó là bức Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp - Mary of Perpetual Help.
    Người Công giáo Việt thì rất gần gũi với linh ảnh này. Và ảnh này được sùng kính cách đặc biệt tại Việt Nam là do lịch sử truyền giáo của các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế. Hầu hết các gia đình Công giáo Việt Nam đều có bức ảnh này trong nhà.

    Nói về bức linh ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp thì bức ảnh này vốn ở đảo Crete (Hy Lạp), sau đó bị một thương gia đánh cắp mang về Roma vào cuối thế kỷ 15. Sau đó bức ảnh được trao lại cho dòng Augustine và được lưu giữ và tôn kính ở nhà thờ Thánh Matthêu. Sau nhiều biến cố lịch sử, nhà thờ Thánh Matthêu bị phá hủy bởi quân đội Napoleon vào năm 1798. Bức linh ảnh được các tu sĩ dòng Augustine bí mật lưu giữ và dần rơi vào quên lãng đối với công chúng trong nhiều thập kỷ. Sự tồn tại của bức ảnh chỉ được duy trì nhờ trí nhớ và lời dặn dò của một tu sĩ già tên là Augustine Orsetti cho cậu bé giúp lễ Michele Marchi.
    ​Nhiều năm sau, Michele Marchi trở thành tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế. Khi dòng xây dựng nhà thờ Thánh Anphongsô ngay trên nền đất cũ của nhà thờ Thánh Matthêu xưa, cha Michele đã kể lại câu chuyện về bức ảnh cổ. Nhận thấy ý nghĩa tâm linh to lớn, bề trên Dòng Chúa Cứu Thế đã thỉnh nguyện lên Đức Giáo hoàng Piô IX. Vào năm 1866, Đức Giáo hoàng đã trao lại bức ảnh cho dòng với sứ vụ: 'Hãy làm cho Mẹ được biết đến khắp thế giới'. Từ đó, Linh ảnh này đã trở thành một trong những hình ảnh Đức Mẹ phổ biến nhất toàn cầu.


    Năm 1925, ba tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế đầu tiên từ Tỉnh dòng Sainte-Anne-de-Beaupré thuộc vùng Quebec, Canada đã đến Huế để bắt đầu sứ vụ tại Việt Nam (đây là tỉnh dòng có trụ sở chính đặt tại Đền thánh Anna nổi tiếng mà em đã viết trong mục hành hương Québec). Các vị thừa sai đã mang theo linh ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp để gieo mầm đức tin tại Việt Nam.
    ​Họ xây dựng tu viện và nhà thờ đầu tiên tại Huế dâng kính tước hiệu này. Ba năm sau, vào năm 1928, dòng ra Bắc mua một miếng đất tại ấp Thái Hà để thiết lập tu viện và xây dựng nhà thờ dâng kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, chính là giáo xứ Thái Hà ngày nay. Đến năm 1933, một cơ sở tạm thời được lập ra ở miền Nam, và sau đó ngôi nhà thờ nổi tiếng trên đường Kỳ Đồng được khánh thành vào năm 1948.

    Nhờ sự truyền bá của các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế, hầu hết giáo dân Việt Nam có lòng sùng kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp (ĐMHCG) cách đặc biệt. Em nhớ từ nhỏ đã thấy có bức tranh ĐMHCG treo trong nhà ngoại. Có một lần lướt web trên mạng em lại thấy một tấm hình của 2 người phụ nữ di cư vào Nam năm 1954. Và ngoài hành trang trên vai thì trên tay họ chính là bức hình ĐMHCG
    Picture1 by Joseph luong, on Flickr

    Và đây là tấm chụp mặt tiền Nhà thờ Th. Anphongsô.
    5OC00370 by Joseph luong, on Flickr

    Một góc rộng chụp từ sân trước nhìn lên nhà thờ.
    5OC00376-Pano by Joseph luong, on Flickr
    hm...

  5. #55
    Tham gia
    30-04-2017
    Bài viết
    2,747
    Bước lên bậc cầu thang, ngay trên cửa chính của nhà thờ là một bức ảnh mosaic của bức ảnh ĐMHCG. Bên dưới có hàng chữ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp bằng tiếng Latin: S. MARIA DA PERPATVO SVCCVRSV
    5OC00378 by Joseph luong, on Flickr


    Nhà thờ lúc này tấp nập khách hành hương nhưng rất yên tĩnh. Không nói chuyện ồn ào như ở các VCTĐ lớn vì chỉ những tín hữu biết về bức ảnh này mới tìm đến. Còn những tour kiểu du lịch thì không ghé vào đây. Vì vậy em cũng tôn trọng không gian cầu nguyện của mọi người nên không đi tới đi lui chụp ảnh.

    Em chỉ chụp cảnh nhìn lên Cung Thánh từ phía dưới nhà thờ. Nếu zoom vào các bác sẽ thấy bức ảnh gốc ĐMHCG. Tấm ảnh được bảo vệ trong một hộp kính chống phản quang. Môi trường khí hậu bên trong hộp kính cũng được kiểm soát chặt chẽ về độ ẩm và nhiệt độ. Ngay cả hệ thống chiếu sáng cũng được chuyển sang LED để không phản xạ bất kỳ tia UV nào có thể ảnh hưởng đến màu sắc bức ảnh.
    5OC00382-HDR-Pano by Joseph luong, on Flickr


    Trong giai đoạn 1990-1991, bức linh ảnh gốc đã được trùng tu tại Bảo tàng Vatican. Sau nhiều thế kỷ tiếp xúc với khói nhang, cùng sự thay đổi nhiệt độ và độ ẩm, bức ảnh đã bị xuống cấp đáng kể. Sau đợt trùng tu này, vẻ đẹp nguyên bản với màu sắc rực rỡ theo phong cách Byzantine đã được khôi phục hoàn toàn.
    5OC00379-HDR by Joseph luong, on Flickr


    Em có đi lên bên phải nhà thờ để đọc thêm về ý nghĩa của linh ảnh và chụp lại phần chú thích bằng tiếng Anh. Để hiểu sâu hơn về từng biểu tượng trong tranh, các bác có thể tham khảo bài viết rất chi tiết trên trang web của Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội tại đây:
    https://nhathothaiha.net/y-nghia-lin...hang-cuu-giup/

    5OC00388-HDR by Joseph luong, on Flickr

    Còn đây là bản sao với hi-res của bức ảnh ĐMHCG em tìm được.
    DUC ME HANG CUU GIUP ban goc chua xu ly by Joseph luong, on Flickr


    Phía cuối nhà thờ với kính màu ảnh ĐMHCG.
    5OC00391-HDR-2 by Joseph luong, on Flickr

    5OC00394-HDR-G by Joseph luong, on Flickr
    Được sửa bởi joseph.luong lúc 08:16 AM ngày 18-04-2026
    hm...

  6. #56
    Tham gia
    30-04-2017
    Bài viết
    2,747
    Rời nhà thờ Thánh Anphongsô em đi bộ đến ngôi nhà thờ cuối trong ngày. Nơi đây cách chừng 10 phút đi bộ. Đó là Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô Xiềng Xích - Basilica of San Pietro in Vincoli.

    Đôi khi cũng đi bộ trong các ngõ hẽm và xa xa thấy một mái vòm to mà em không biết là nhà thờ hay là một kiến trúc nào.
    5OC00397-HDR by Joseph luong, on Flickr

    5OC00400 by Joseph luong, on Flickr


    Nhà thờ Thánh Phêrô Xiềng Xích được xây bởi Hoàng hậu Eudoxia, vợ Hoàng đế Valentinian III, từ thế kỷ thứ 5 dưới nền móng của một ngôi nhà thờ khác đã bị hư hại do thiên tai. Sau đó nhà thờ tiếp tục được trùng tu, nâng cấp nhiều lần. Ngày nay nhà thờ vẫn tiếp tục được tu sửa và dự kiến hoàn thành vào tháng 5/2026. Vì vậy khi em đến đây, hai gian bên cạnh được quây lại bằng giàn giáo.

    5OC00401 by Joseph luong, on Flickr


    Ở trên trần VCTĐ là một tác phẩm nghệ thuật được vẽ lên vào năm 1706 bởi Giovanni Parodi. Kể về một thánh tích liên quan đến Thánh Phê-rô được lưu giữ nơi đây.

    5OC00402-Pano by Joseph luong, on Flickr

    Vào khoảng năm 438–439, Hoàng hậu Aelia Eudocia (mẹ của Eudoxia) nhận 1 thánh tích từ Giám mục Juvenal của Jerusalem và gửi về cho con gái.

    Sợi xích đầu tiên truyền thống cho rằng đã dùng để xích tông đồ Phêrô ở Giêrusalem. Đêm đó Phêrô đã được thiên thần đến và cứu đi. Sự việc này đã được ghi lại trong Kinh Thánh (Cv 12:6-11) https://augustino.net/sach-cong-vu-tong-do-chuong-12
    Sau khi nhận được sợi xích, Hoàng hậu Eudoxia đã dâng lên cho Giáo hoàng Leo I. Theo truyền thuyết, khi Đức Giáo hoàng Leo I đặt sợi xích Jerusalem cạnh sợi xích Roma (được cho là đã dùng để xích Thánh Phê-rô trong nhà tù Mamertine Roma trước khi tử đạo dưới thời Nero), hai sợi xích đã kỳ diệu hợp nhất thành một.

    5OC00402 by Joseph luong, on Flickr


    Vì vậy, Hoàng hậu Eudoxia cho xây dựng lại ngôi nhà thờ với mục đích lưu giữ và tôn kính bộ xiềng xích Thánh Phê-rô. Từ đó, nhà thờ được gọi là San Pietro in Vincoli (Thánh Phê-rô Xiềng Xích).
    Bộ xiềng xích Thánh Phê-rô được đặt trang trọng ngay dưới bàn thờ chính.

    5OC00414-HDR by Joseph luong, on Flickr

    5OC00410-HDR by Joseph luong, on Flickr
    Được sửa bởi joseph.luong lúc 05:59 AM ngày 21-04-2026
    hm...

  7. #57
    Tham gia
    30-04-2017
    Bài viết
    2,747
    Ngoài ra, nhà thờ còn sở hữu một kiệt tác nghệ thuật đặc biệt: bức tượng Moses do Michelangelo tạc. Đây cũng là một trong những tuyệt tác điêu khắc xuất sắc nhất của ông.

    Bức tượng này vốn là 1 trong 40 bức tượng cao 3 tầng trong một dự án lăng mộ của Giáo hoàng Julius II, do chính GH Julius II đặt Michelangelo khi còn sống vào năm 1505. Dự án đồ sộ này ban đầu thiết kế được đặt ở VCTĐ Thánh Phêrô (lúc đó vẫn là ngôi thánh đường cũ, việc xây dựng ngôi mới bắt đầu năm 1506). Michelangelo bỏ rất nhiều tâm huyết cho dự án này. Ông đã dành tới 8 tháng chỉ để lên núi Carrara chọn đá cẩm thạch.
    Nhưng công trình này được Michelangelo gọi là một “La tragedia del sepolcro” – Bi kịch của lăng mộ. Công trình bị trình trệ và gián đoạn nhiều lần. Một phần lớn là vì kinh phí được ưu tiên cho xây VCTĐ Thánh Phêrô mới, đồng thời ĐGH Julius II lúc đó đã giao cho Michelangelo vẽ kiệt tác trần nhà nguyện Sistine. Năm 1513, ĐGH Julius II qua đời và công trình vẫn là một đống đá ngổn ngang dang dở.
    Dự án bị thay đổi và giảm quy mô đến 5 lần, từ một lăng mộ to lớn trở thành một đài tưởng niệm áp tường khiêm tốn như ngày hôm nay. Michelangelo phải sửa đổi thiết kế rất nhiều lần trong suốt hơn 40 năm đầy trăn trở. Cuối cùng trong toàn bộ công trình, chỉ có bức tượng Moses là do chính tay Michelangelo hoàn thiện. Các bức tượng khác đều được tạc do các học trò của ông.

    Đây là một vài chi tiết thú vị về bức tượng Moses này:
    - Michelangelo khắc Moses đang ngồi, nhưng toàn thân toát lên sức sống căng thẳng và đầy năng lượng. Chân phải duỗi về trước, chân trái co lại như sắp đứng dậy; thân người xoay một hướng, đầu ngoảnh mạnh sang hướng khác. Tay phải ông giữ chặt hai tấm bia Lề Luật (10 Điều Răn). Tượng này lấy cảm hứng sách Xuất Hành chương 32. Khi ông Moses mang hai tấm bia Lề Luật từ núi Sinai xuống, ông thấy dân chúng đã đúc một con bê vàng để thờ. Moses đã nổi giận khi thấy cảnh đó. Nhờ tư thế đối lập này, dù đang ngồi, bức tượng vẫn tạo cảm giác chuyển động mạnh mẽ, như thể Moses sắp đứng phắt dậy để quở trách dân Israel. Michelangelo không chỉ tạc một người đang ngồi, mà là tạc "ý chí sắp hành động".

    - Một chi tiết gây chú ý nhất là hai sừng nhỏ trên đầu Moses. Từ tiếng Hebrew gốc “qaran” (קָרַן) trong Xuất Hành 34:29 có thể mang nghĩa kép: vừa là “toả sáng/phát ra tia sáng” (khuôn mặt Moses sáng rực vinh quang sau khi nói chuyện với Thiên Chúa), vừa liên quan đến từ “qeren” nghĩa là “sừng”. Thánh Jerome khi dịch bản Latin Vulgate đã chọn nghĩa “cornuta” (có sừng). Michelangelo trung thành với bản dịch phổ biến thời đó, nên đã tạc hai sừng trên đầu.

    - Khi thiết kế ban đầu, Michelangelo dự định đặt bức tượng Moses ở tầng thứ hai của lăng mộ khổng lồ (cao khoảng 3,7 mét so với mặt đất). Vì người xem sẽ nhìn từ dưới lên xa, ông đã cố ý tạc đầu và thân trên to hơn so với tỷ lệ thông thường. Tuy nhiên, khi dự án bị thu nhỏ, bức tượng bị đưa xuống tầng dưới cùng. Michelangelo đã phải xoay mạnh đầu tượng sang bên trái và tinh chỉnh biểu cảm vào phút chót để phù hợp với góc nhìn mới. Nhờ đó, dù đang ngồi, bức tượng vẫn toát lên một sức mạnh bùng nổ và sự sống động lạ thường.
    Một truyền thuyết cho rằng khi hoàn thành bức tượng, Michelangelo quá hài lòng với vẻ sống động của nó đến mức ông đập nhẹ vào đầu gối phải và hét lên: “Nói đi!” (Ora parla!). Trên đầu gối tượng hiện vẫn còn một vết lõm nhỏ được cho là dấu búa của ông.

    - Ngay cả Sigmund Freud, cha đẻ của tâm lý học, cũng bị bức tượng cuốn hút mạnh mẽ. Năm 1913, ông ngồi hàng giờ trước tượng này và viết một bài phân tích nổi tiếng, cho rằng Michelangelo đã khắc Moses ở khoảnh khắc kiềm chế cơn giận, thể hiện sức mạnh tinh thần và sự tự chủ.

    5OC00418 by Joseph luong, on Flickr

    5OC00419 by Joseph luong, on Flickr


    5OC00420 by Joseph luong, on Flickr

    5OC00422 by Joseph luong, on Flickr


    Và Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô Xiềng Xích cũng là điểm cuối của ngày. Rời nhà thờ, em đi bộ ngược trở lại gần khu VCTĐ Đức Bà Cả để ăn tối. Và không gì ngon hơn một tô phở nóng sau một ngày dài đi bộ. 10 năm trước Rome chỉ có 1 quán ăn Việt. Bây giờ thì đã có đến 3 tiệm phở. 1 trong 3 tiệm đó chỉ cách VCTĐ Đức Bà Cả có 200m. Ăn xong em bắt taxi về lại hotel ở Vatican nghỉ ngơi.

    5OC00423 by Joseph luong, on Flickr

    5OC00425 by Joseph luong, on Flickr
    hm...

  8. #58
    Tham gia
    05-10-2011
    Bài viết
    5,157
    Cám ơn bác JL đã cho biết lịch sử của DCCT và ý nghĩa của ĐMHCG. Em đã nghe đến DCCT và ĐMHCG đã lâu nhưng hoàn toàn không hiểu DCCT và ĐMHCG là gì. Cho em hỏi, DCCT có phải là Dòng đầu tiên đến VN giảng đạo? Và VN hiện đang có bao nhiêu Dòng?

  9. #59
    Tham gia
    30-04-2017
    Bài viết
    2,747
    Quote Được gửi bởi Văn Khoa View Post
    Cám ơn bác JL đã cho biết lịch sử của DCCT và ý nghĩa của ĐMHCG. Em đã nghe đến DCCT và ĐMHCG đã lâu nhưng hoàn toàn không hiểu DCCT và ĐMHCG là gì. Cho em hỏi, DCCT có phải là Dòng đầu tiên đến VN giảng đạo? Và VN hiện đang có bao nhiêu Dòng?
    - Theo em tìm hiểu thì qua báo cáo của Uỷ ban Tu sĩ Hội Đồng Giám Mục Việt Nam tính đến tháng 10, 2025 có 235 dòng tu (Orders and Congregations) hiện diện tại VN.

    - Tài liệu đầu tiên ghi chép việc giảng đạo là “Khâm Định Sử Việt Thông Giám”. Trong đây có ghi: “Năm Nguyên Hòa nguyên niên [1533], tháng ba, đời vua Lê trang Tôn, có người Tây Dương tên I-Nê-Khu lén vào xã Ninh Cường, xã Quần Anh huyện Nam Chân, và xã Trà Lũ huyện Giao Thuỷ, âm thầm truyền bá Da Tô tả đạo”. Các xã này thuộc tỉnh Nam Định. I-nê-khu có thể là phiên âm của Inigo hoặc Ignatius. Không ai biết vị giáo sĩ này thuộc dòng tu nào và kết quả truyền đạo ra sao, nhưng đây là cột mốc đầu tiên ghi nhận việc giảng đạo tại Việt Nam.

    Trả lời câu hỏi của bác thì DCCT không phải là dòng đầu tiên đến VN. Dòng đầu tiên đến Việt Nam giảng đạo là Dòng Đa Minh (tên chính thức là Dòng Anh Em Thuyết Giáo - Ordo Praedicatorum, viết tắt là OP). Tiếng Anh là Dominican Order.

    Năm 1550, Linh mục Gaspar da Santa Cruz thuộc dòng Đa Minh (Dominican) đến vùng đất Hà Tiên và sau đó đi ra miền Trung. Nhưng ông chỉ ở lại một thời gian ngắn rồi rời đi Trung Quốc.

    1558-1586: Các tu sĩ Dòng Đa Minh tiếp tục đến truyền đạo ở Quảng Yên, Đàng Ngoài.

    1580: Dòng Phan-xi-cô OFM đến Thuận Hoá truyền đạo. Dòng Phan-xi-cô còn gọi là Dòng Anh Em Hèn Mọn. Tiếng Latin là Ordo Fratrum Minorum (OFM), tiếng Anh là Order of Friars Minor hoặc Franciscan Order.

    - Thời kỳ trên, các dòng và tu sĩ đến truyền giáo nhưng không trụ được lâu vì gặp rào cản ngôn ngữ, văn hoá và quan lại địa phương. Họ chỉ ở lại một thời gian ngắn và rời đi.

    Cột mốc quan trọng mở đầu cho việc truyền giáo rộng rãi là vào năm 1615. Sau đó dần dần tổ chức Giáo hội Việt Nam được định hình.

    1615: Các tu sĩ Dòng Tên (Jesuits) đến Cửa Hàn, Đà Nẵng. Việc loan truyền Tin Mừng thành công hơn nhờ vào chiến lược học tiếng Việt và văn hoá bản địa.

    1659: Tòa Thánh Vatican thành lập 2 Giáo phận Tông tòa đầu tiên: Đàng Trong và Đàng Ngoài.

    1664: Hai Giám mục và một số linh mục bắt đầu sang VN.

    1670: Đức Giám Mục Lambert de la Motte lập dòng Mến Thánh Giá tại Kiên Lao (Nam Định). Đây là dòng tu bản địa đầu tiên trên đất Việt.

    - Các dòng tu khác bắt đầu có mặt ở VN vào Thế kỷ 19-20:

    1860: Dòng Thánh Phaolô thành Chatres - Saint Paul de Chatres.

    1861: Dòng Cát Minh- Discalced Carmelites.

    1866: Dòng La San - De La Salle Brothers.

    1918: Dòng Xitô (Phước Sơn) - Citerians of the Strict Observance.

    1925: Dòng Chúa Cứu Thế.

    1952: Dòng Don Bosco - Salesians of Don Bosco.

  10. #60
    Tham gia
    30-04-2017
    Bài viết
    2,747
    Nơi em ở có một điểm rất đặc biệt. Đó là trong sân phía sau có 2 cây to và có rất nhiều chim đậu. Không biết ở đâu và sao lại chọn nơi này, nhưng mỗi buổi sáng và chiều em đều nghe tiếng chim hót líu lo như một đồng hồ đánh thức tự nhiên. Nếu ở VN em nghe tiếng gà gáy sáng thì ở Rome là tiếng chim hót. Chắc cũng phải cả trăm con và nghe rất đã tai.
    VID_20251016_175723086 by Joseph luong, on Flickr


    Hôm nay em chỉ đến có một nơi. Đó là Đại Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô ở Vatican - St. Peter's Basilica

    Đây là một trong 4 Đại VCTĐ và là 1 trong điểm đến của tất cả mọi người những ai đến Rome. Đây cũng là Thánh Đường lớn nhất thế giới. Vì vậy rút kinh nghiệm từ lần đi trước, em dành hết một ngày để đến nơi đây.

    Sáng sớm sau khi đàn chim hót líu lo đánh thức thì em đi vào McDonald's làm một bữa sáng. Ở Canada và Mỹ hầu như em không bao giờ vô tiệm này ăn nhưng qua Rome thì em lại ghé rất thường xuyên, đặc biệt là buổi sáng. Cà phê ngon hơn Canada. Bánh croissant cũng ngon hơn, và quan trọng là ở đây có cam vắt. Canada & US thì toàn là cam đóng hộp, không ngon và tươi như cam vắt.

    Làm xong bữa sáng thì em đi bộ ra đến cuối đại lộ Hòa Giải - Via della conciliazione để bắt đầu.
    Quảng trường Thánh Phê-rô buổi sáng. Tuy ít người, nhưng bên khu đợi xếp hàng để qua security đã bắt đầu đông.
    5OC00426 by Joseph luong, on Flickr

    5OC00427 by Joseph luong, on Flickr


    Vì là Năm Thánh nên họ đã đóng cả con đường Hòa Giải dài 400m và dành một lối đi đặc biệt cho những khách hành hương. Muốn qua Cửa Thánh của VCTĐ Thánh Phêrô thì các tín hữu có thể book trước một khung giờ, sau đó khi đủ số người thì bắt đầu cuộc rước từ đây để bước vào Cửa Thánh. Em đi có 2 người nên tuy book trước khung giờ nhưng cũng ra đây đợi. Chừng 10 phút sau khi đoàn đủ số thì họ cho đoàn 1 cây Thánh Giá và mọi người bắt đầu vừa đi vừa cầu nguyện hướng về Đền Thánh.

    Cảnh một đoàn hành hương đang tiến về Đền Thánh.
    5OC00428 by Joseph luong, on Flickr


    Nơi em đứng đợi nhìn về quảng trường và VCTĐ Thánh Phê-rô.
    @50mm
    5OC00430 by Joseph luong, on Flickr

    5OC00431 by Joseph luong, on Flickr
    hm...

Trang 6 / 9 Đầu tiênĐầu tiên ... 45678 ... Cuối cùngCuối cùng

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Tags for this Thread

Quy định

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •