Chia sẻ của bác làm em phải tìm hiểu thêm về giáo hội thời đó và nhờ vậy em học được vài điều mới. Em xin chia sẻ vài thông tin em tìm hiểu được để thêm một góc nhìn của một lịch sử phức tạp chứ không ý biện minh cho bất kỳ sai lầm nào.
Nói về số vàng dát trần với mẻ vàng đầu tiên của Columbus thì theo các tài liệu lịch sử, chuyến đi đầu tiên của Columbus (1492–1493) chỉ mang về số lượng vàng rất nhỏ, không đáng kể về mặt kinh tế. Chủ yếu là một số đồ trang sức nhỏ, vàng miếng từ vùng Hispaniola (ngày nay là Haiti và CH Dominican) chứ không phải mẻ vàng khổng lồ như mong đợi. Vì vậy câu chuyện này mang tính biểu tượng nhiều hơn. Mỏ vàng lớn thật sự chỉ xảy ra sau khi Hernán Cortés chinh phục Aztec (1519-1521) và Francisco Pizarro chinh phục Inca (1532-1533).
Về sự giàu có của Giáo hội thời kỳ đó thì nguồn tài chính chủ yếu của Giáo hội đến từ thuế Thập phân (Tithes) - 10% thu nhập của các giáo dân toàn Châu Âu. Một nguồn khác là các thứ thuế và lợi tức từ Lãnh thổ Giáo hoàng (Papal States). Khi ấy Giáo hoàng trực tiếp cai trị một vùng lãnh thổ rộng lớn ở miền trung nước Ý. Về các quà biếu, và đặc biệt là vàng từ Châu Mỹ thì em nghĩ chỉ chiếm một phần rất nhỏ. Nhất là khi Royal Fifth dùng chủ yếu phục vụ quân sự và chính trị của triều đình Tây Ban Nha.
Bác nói đúng về những tội ác tàn bạo của conquistador đối với người bản địa. Hai bức tranh bác chụp đã khắc hoạ mạnh mẽ nỗi đau của họ. Đó là sự thật không thể phủ nhận.
Các hành vi tàn bạo của các Conquistador như Cortés hay Pizarro vi phạm trực tiếp các điều răn của Chúa. Đức tin cần hành động qua đức ái (faith that works in love), nơi con người đón nhận ân sủng Chúa để biến đổi đời sống. Những hành vi tàn bạo đó cho thấy họ đã khước từ ân sủng để đi theo bóng tối của tham vọng hơn là theo tinh thần Phúc Âm.
Trong thân phận thụ tạo, tất cả đều mang tội lỗi và cần đến lòng thương xót của Thiên Chúa. Vì vậy khi nhìn lại lịch sử, chúng ta cũng thấy có những vị Giáo hoàng bất toàn (bad popes). Các vị, dù giữ trọng trách đại diện Chúa Giêsu Kitô, cũng không miễn trừ khỏi thân phận bất toàn này. Giáo hội Công giáo là thánh thiện (holy), nhưng lại bao gồm những con người tội lỗi luôn cần được canh tân.
Nói về vai trò của Giáo hội và các vị Giáo hoàng ở thời kỳ này cũng phức tạp. Từ bối cảnh, ý thức hệ thời bấy giờ đến việc đan xen giữa tôn giáo và chính trị. Các Giáo hoàng thời đó vừa phải giữ vai trò lãnh đạo tinh thần của Giáo hội toàn cầu, đồng thời duy trì liên minh chính trị với cường quốc Công giáo để đối phó với nhiều thách thức lớn khác như phong trào Kháng Cách ở Châu Âu hay đế quốc Ottoman.
Sau khi nhận mẻ vàng đầu tiên thì GH Alexander VI đã ban hành sắc lệnh Inter Caetera (4 tháng 5, 1493). Ngôn ngữ của sắc lệnh này đan xen giữa tôn giáo (mục tiêu truyền giáo) và chính trị (phân chia ảnh hưởng giữa hai cường quốc Công giáo là TBN và BĐN để tránh xung đột). Nhưng vì sự mơ hồ trong sắc lệnh nên đã bị lạm dụng. TBN và các conquistador diễn giải nó như quyền sở hữu tuyệt đối, cho phép chiếm đất, khai thác tài nguyên và thiếp lập hệ thống encomienda (lao dịch bản địa gần như nô lệ) và cũng dùng để biện minh cho bạo lực và cướp bóc.
Bên cạnh sự tàn bạo đẫm máu của các Conquistador thì chính giáo hội đã lên tiếng mạnh mẽ phản đối những sai trái của họ.
Tiếng nói phê phán công khai và mạnh mẽ được ghi nhận đầu tiên là dòng tu Dominican (dòng Đa Minh). Năm 1510, một nhóm dòng Đa Minh đến truyền giáo tại Hispaniola và họ đã kinh hoàng trước sự tàn ác đối với người bản địa. Ngày 21/12/1511, linh mục Antonio de Montesinos của dòng đã công khai cảnh cáo mạnh mẽ, rõ ràng nhất chống lại sự tàn bạo này. Cha tuyên bố toàn bộ lính TBN đang sống trong tội lỗi chết người và không được quyền nô dịch người bản địa. Dòng Đa Minh sau đó thực hiện chính sách Từ chối giải tội và Rước Lễ. Chừng nào quân lính chưa thả nô lệ và trả lại tài sản, họ sẽ không được tha tội. Đây là một hình thức kỷ luật thiêng liêng mạnh mẽ, vì thời đó, Bí tích là điều kiện thiết yếu để được cứu rỗi linh hồn. Sau đó tuy bị kiện lên vua TBN (trong đó có con trai Columbus) đòi đuổi dòng Đa Minh về, nhưng dòng kiên quyết không nhượng bộ. Và sức ép từ dòng là một phần quan trọng dẫn đến Luật Burgod năm 1512. Đây là văn bản pháp lý đầu tiên công nhận quyền làm người của dân bản địa.
Bài giảng trước Giáng Sinh năm 1511 cũng đã chạm đến lương tâm của một người, đó là Bartolomé de lá Casas (1484-1566). Ông này cũng là chủ encomienda. Sau khi chứng kiến những tàn bạo, thảm sát và đặc biệt sau khi suy ngẫm về bài giảng của cha Montesinos cũng như các bài giảng của dòng, ông từ bỏ hết đất đai và nô lệ. Ông gia nhập dòng Đa Minh và dành cả đời tố cáo những tàn bạo mà những người ở thuộc địa gây ra. Ông ghi chép những tội ác đẫm máu và gửi thẳng cho vua TBN. Nhờ sự kiên trì của ông, nhà vua ban hành Bộ Luật Mới (Leyes Nuevas) vào năm 1542. Bộ luật này cấm chế độ nô lệ Encomienda. Tuy nhiên, do sự phản đối dữ dội từ các Conquistador tại thuộc địa, cuộc tranh luận về tính chính danh của việc chinh phạt vẫn tiếp diễn.
Đỉnh cao là vào năm 1550-1551, ông tham gia cuộc Tranh luận Valladolid. Vua Charles V của Tây Ban Nha đã ra lệnh dừng mọi cuộc chinh phạt để hội đồng các nhà thần học và luật học (Trường phái Salamanca) xem xét liệu việc xâm lược Mỹ Châu có chính đáng về mặt đạo đức hay không. Đây là một cột mốc cực kỳ quan trọng trong lịch sử nhân quyền và là minh chứng rõ nhất cho nỗ lực của Giáo hội nhằm bảo vệ người bản địa chống lại các Conquistador. Đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử châu Âu, một đế quốc tổ chức một cuộc tranh luận công khai về tính đạo đức của việc xâm lược và quyền lợi của những người bị chinh phục.
Ngoài hai ví dụ trên còn có Giám Mục Vasco de Quiroga (Giám mục Michoacán, Mexico). Ngài chọn hành động bằng kinh tế và xã hội. Ngài dùng tiền cá nhân và tài sản giáo phận để mua đất, xây dụng các Hospitales-pueblos, là những Làng cộng đồng tự trị. Mỗi làng là một đơn vị tự trị và người dân bản địa được dạy nghề thủ công (đan lát, làm gốm, rèn). Không có sự bóc lột từ chủ nô TBN. Ngài cũng thiết lập chế độ làm việc 6h/ngày để người dân có thời gian cho gia đình và giáo dục. Đến tận ngày nay, vùng Michoacán vẫn nổi tiếng với các làng nghề thủ công mà nguồn gốc chính là từ các "Hospitales-pueblos" của GM Vasco de Quiroga. Ngài được người dân yêu mến gọi là "Tata Vasco" (Tata là cách gọi cha/ông một cách trìu mến, gần gũi).
Sau này Dòng Tên (Jesuits) xin phép Tòa Thánh và Nhà Vua để trang bị vũ khí cho người bản địa ở lưu vực sông Plata (Paraguay, Bắc Argentina và Nam Brazil ngày nay). Năm 1641, trong trận đánh Mbororé (Argentina ngày nay), quân đội người bản địa dưới sự dẫn dắt của Dòng Tên đã đánh bại hoàn toàn đội quân săn nô lệ của thực dân BĐN.
Vào năm 1537, Đức Giáo hoàng Paul III đã ban hành sắc lệnh Sublimis Deus. Văn bản này khẳng định một cách dứt khoát rằng: người bản địa và tất cả những dân tộc mới được phát hiện là những con người thực thụ (veros homines), sở hữu linh hồn, trí tuệ và có đầy đủ nhân phẩm ngang hàng với người Châu Âu. Ngài tuyên bố rằng: dù chưa đón nhận đức tin Kitô giáo, họ vẫn có quyền tuyệt đối về tự do và sở hữu tài sản; mọi hành vi nô lệ hóa hay tước đoạt đều bị coi là vô hiệu và phi pháp. sắc lệnh cũng nhấn mạnh một nguyên tắc căn bản: niềm tin phải được lan tỏa bằng lời rao giảng và gương sáng đạo đức, chứ không bao giờ bằng gươm giáo hay sự cưỡng bức.
Đến thời nay thì có 2 vị Giáo hoàng đã lên tiếng công khai xin lỗi người bản địa Châu Mỹ một cách rõ ràng và mạnh mẽ. Đầu tiên là Thánh Giáo hoàng John Paul II vào năm 1992 và năm 2000. Và sau đó là GH Francis vào năm 2015.
Năm 1992, nhân kỷ niệm 500 năm ngày Christopher Columbus đến châu Mỹ, thay vì tổ chức ăn mừng chiến thắng, ngài đã chọn cách nhìn nhận thẳng thắn. Tại Santo Domingo, ngài công khai xin lỗi vì “những nỗi đau và bất công” mà người bản địa phải chịu đựng trong suốt năm thế kỷ qua, và kêu gọi người Công giáo hãy quỳ xuống xin sự tha thứ từ các dân tộc bản địa.
Đến Năm Thánh 2000, trong thánh lễ long trọng tại Đền thờ Thánh Phêrô, ngài chính thức xin lỗi toàn thế giới về những sai trái và lỗi lầm mà Giáo hội đã gây ra, trong đó có tội lỗi liên quan đến việc vi phạm quyền con người và sự áp bức đối với các dân tộc khác.
Năm 2015, trong chuyến thăm Bolivia, Đức GH Francis đã tuyên bố: “Nhiều tội lỗi nghiêm trọng đã được phạm phải chống lại các dân tộc bản địa trong cuộc chinh phục châu Mỹ. Tôi khiêm tốn xin lỗi, không chỉ vì những tội lỗi của Giáo hội, mà còn vì những tội ác đã được thực hiện nhân danh Thiên Chúa.”
Tóm lại, lịch sử chinh phục Châu Mỹ nói riêng, và giáo hội thời đó nói chung là một trang phức tạp. Không hoàn toàn đen cũng không phải trắng. Nhưng trong những lúc đen tối thì lúc nào cũng có những ánh sáng lóe lên là những tiếng nói mạnh mẽ từ chính bên trong Giáo hội. Và Giáo hội đã và vẫn tiếp tục canh tân từng ngày. Như lời của Đức Giáo hoàng Benedict XVI trong buổi tiếp kiến chung năm 2009: “Giáo hội không thánh thiện nhờ công trạng của các thành viên, nhưng vì Thiên Chúa thiết lập và ban cho Giáo hội sự thánh thiện của Ngài. Tuy nhiên, trong khuôn mặt của Giáo hội, chúng ta cũng thấy những vết mờ vì tội lỗi của con người; vì thế, Giáo hội luôn luôn cần đến sự thanh tẩy và canh tân.”






Reply With Quote
